"Khoa bảng là con đường của sĩ tử, ai đi thi hội văn hay trúng đệ nhất danh làng thưởng 100 quan; đệ nhị danh làng thưởng 50 quan"
Hồi đó, trong làng có ông Đỗ Đức Huy mới đậu Cống sinh. Lúc này dân mới đến 20 hộ từ đó mà đông lên". - Con cứ nói tiếp đi. Theo Báo Quảng Bình. Tiếng than khóc, giận hờn ran dậy cả thôn xóm. Vì vậy, dân làng Cảnh Dương thường nói: Ăn mắm Hàm Hương, nhớ thương ông Cống Đến với Cảnh Dương giàu đẹp bữa nay, người ta không quên một thuở Cồn Dưa, Lòi mắm và câu chuyện mang hương vị của mắm Hàm Hương như nhắc đến một tư cách, một tấm lòng của người Cảnh Dương trong những ngày gian lao.
Chuyện kể rằng,vào đời Hậu Lê, Triều đình sức cho dân làng Cảnh Dương mỗi năm phải dâng tiến vua hai trăm chỉnh mắm Hàm Hương, loại mắm đặc biệt được làm bằng một loại cá nhỏ, quý hiếm ở cửa sôn Roòn gọi là cá Hàm Hương.
Khi thất thủ, không cam chịu rơi vào tay giặc, ông tuẫn tiết giữ tấm lòng trung, được triều đình nhà Nguyễn đưa vào thờ ở Trung Nghĩa đường. Phàm làm việc gì một mực phải nói lời công minh, không được so bì riêng tư, không được cường hào mà phóng túng". Nhận được tấu trình, được viên quan biểu lộ thêm, vua chấp thuận huỷ bỏ lệ cống mắm Hàm Hương hàng năm cho làng biển Cảnh Dương.
Cổng làng Cảnh Dương hôm nay. Năm nào mất mùa, không đủ số chỉnh mắm triều đình quy định thì quan huyện, quan tổng cho lính về bắt bớ, nhốt, đánh đập trai tráng, người già trong làng. Nhân dân Cảnh Dương đã gửi tấm lòng mình với người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ trong việc đúc chiếc chuông đồng "Hồng chung cảnh viện" vào năm Cảnh Thịnh thứ 9(1801): "Ngôi vua vững bền/ Đạo vua xưng thịnh/ Nhật nhật tăng huy/ Pháp luân thường chuyển/ trần thế thái bình/ Nạn tai xoá sổ".
Nghe xong vị quan lớn cảm động về tấm lòng của ông cống Huy đối với xóm làng vội bảo làm tờ biểu để ông tâu lên Hoàng thượng. Vốn là người thông minh, tháo vát lại cần cù, chịu khó, việc gì cũng lo tròn làm nên ông chủ rất chấp thuận. Làng Cảnh Dương bên dòng sông Loan. Có nhẽ, Cảnh Dương là một trong rất ít nơi có Văn Miếu, có bia khoa mục, có Hội Văn như một Tao Đàn ở chốn làng quê.
Có việc gì cần ta sẽ giúp. Nghe vị quan lớn khích lệ như cởi tấm lòng, ông Cống Huy kể lại cho chủ nghe nổi cực khổ của dân làng Cảnh Dương trong việc cống tiến mắm Hàm Hương. Loại cá này chỉ lớn bằng cái vảy cau, có màu hồng trong, hàng năm chỉ xuất hiện trên hải phận này dăm ba tháng. Nằm bên núi Phượng, sông Loan, làng biển Cảnh Dương như một chiếc thuyền neo bình yên bên bờ biển biếc. Cảnh Dương được coi là dân Kiến Nghĩa, Đạo dẫn đường dưới triều Lê Trịnh, họ đã phải sung lính, chuyển vận lương thực, dẫn đường vượt biển trong các cuộc chiến ở thế kỷ XVII.
Trong kháng chiến chống Mỹ cứ nước, vừa sản xuất vừa chống chọi, Cảnh Dương còn tổ chức đội thuyền chuyển vận khí giới vào Quân khu Trị Thiên. Đến mùa cá Hàm Hương xuất hiện là cả làng lo bám biển đêm, năm nào cá về nhiều thì còn đủ, năm nào mất mùa dân làng ăn không ngon ngủ không yên.
Một mình lặn lội ra tận Thăng Long cải dạng làm người người tôi tớ đi ở cho một viên quan có thế lực trong triều. Mùa xuân năm Ất Mùi (1655) các cụ Nguyễn An, Đỗ Phú Thanh.
Thấy tình cảnh dân tình khốn khổ về nạn cống mắm Hàm Hương bèn nghĩ cách cứu dân làng khỏi vấn nạn thường niên. Ông trở thành người quán xuyến công việc, được viên quan tin tưởng giao cho nhiều việc kể cả việc soạn thảo tấu trình.
Sống trong thời đại của cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn, ngay từ khi khai canh dân làng Cảnh Dương đã chịu nhiều cơ cực của nạn đao binh
Phạm Chân được cử giữ chức Án Sát tỉnh Thanh Hóa, Án sát tỉnh Lạng Sơn, có công dẹp bọn giặc phỉ phương Bắc. Tháng 4 năm Mậu Tuất (1658) các vị tiền khẩn họp lại đặt tên làng là Cảnh Dương. Một trong tám bát danh hương của Quảng Bình, Cảnh Dương còn biết đến là Làng đấu tranh gương mẫu, một vùng đất nhóc chiến công trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Không chỉ có vậy, Cảnh Dương còn tích cực tiếp viện cho các mặt trận trong cả nước. Từ đó, mỗi lần được mùa cá dân làng lại làm mắm Hàm Hương nhưng không phải lo nộp cống chỉ cung tiến vua một vài chỉnh mắm ngon gọi là tấm lòng của dân làng còn lại đem đi bán trong nam ngoài bắc, đời sống của dân làng vì vậy mà khấm khá hơn.
Trước khi về xin cụ giúp cho một việc, nếu được dân làng con muôn lần đội ơn. Sách Làng biển Cảnh Dương của đất nước Nguyễn Viễn viết: "Năm Quý Mùi (1643) Phúc Thái nguyên niên, ngày 19 tháng 11 mùa đông các cụ Nguyễn Văn An, Đỗ Phú Thanh, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Văn Lẫm, Phạm Văn Hữu, Phạm Văn Sảo vào châu Bố Chính, ngụ tại Cồn Dưa xã Thuần Thần, lúc đó 6 người kết làm anh em.
- Viên quan giục ông nói tiếp. Lịch sử khai canh lập ấp của Cảnh Dương bắt đầu từ Cồn Dưa, Lòi Mắm. Khoán lệ của làng nghi rõ: "Chính sự phong hóa càng phải rộng mở mới tận thiện, tận mỹ. Trổi trong số đó có Phạm Chân sinh năm Giáp Tý (1804), năm Đinh Dậu (1837) đậu cử nhân, năm Mậu Tuất (1838) đậu tấn sĩ. Một hôm, nhân lúc quan lớn vui vẻ ông lựa lời thưa bẩm: - Bẩm quan lớn, con phục dịch cụ cũng đã lâu, nay trong nhà có việc xin cụ lớn cho con về dăm bữa nửa tháng.
Cách mệnh Tháng Tám thành công, Cảnh Dương có những đóng góp to lớn trong hai cuộc kháng chiến dốt nát của dân tộc. Khi giặc Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, Phạm Chân đã tranh đấu ngoan cường bảo vệ thành Biên Hòa - Gia Định. Nhờ khuyến học, khuyến tài mà trong các kỳ thi dưới triều Nguyễn từ Minh Mạng về sau làng Cảnh Dương có đến hơn 100 người đậu từ tú tài đến tấn sĩ.
Sau Phạm Chân có Nguyễn Phùng Dực đỗ tấn sĩ khoa Kỷ Dậu (1849), lừng danh là người tài ba, cụ Dực chuyên tâm cho ngành giáo dục, mở trường lớp mong đào tạo được nhiều người đức tài cho quê hương, xứ sở.
Đến Cảnh Dương, nghe câu chuyện cổ về Mắm Hàm Hương mà lòng cứ thương nhớ. Dân làng Cảnh Dương cốt sống nhờ nghề chài lưới trên sông biển, chế biến và buôn bán các loại hải sản nhưng các vị tiên chỉ của làng tinh thần được việc học của con cháu nên trong các hương phả luôn đề cao việc giáo dục, đào tạo nhân kiệt, có chế độ khuyến khích người đỗ đạt.
Đánh bắt được cá Hàm Hương đã khó, việc chế biến thành mắm cũng khá công phu, phức tạp, chỉ các bà, các chị có tay nghề thuần thục mới chế biến được thứ mắm vừa thơm lại vừa ngon, không nơi nào có được. Khi người anh hùng áo vải Tây Sơn ra Bắc, người Cảnh Dương đã góp nhiều công sức cho cuộc tiến quân tiến về Thăng Long diệt tập đoàn phong kiến họ Trịnh, thống nhất giang san.
Dẫn dân đến xứ Lòi Mắm. Rồi ông nói về thân phận của mình cũng như việc ông ra kinh kì là nhằm tìm cách xin triều đình miễn giảm việc cống tiến mắm Hàm Hương cho dân làng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lăng, Cảnh Dương là Làng tranh đấu gương mẫu đánh lui nhiều đợt tấn công của quân địch tạo điều kiện mở mang chiến tranh du kích ở vùng Bắc Quảng Bình. Có lẽ rất ít làng xã khi mới khai canh đã bắt tay vào lập khoán lệ, hương ước xây dựng quê hương từ tháng 3 năm Kỷ Hợi (1659).
Bản anh hùng ca của vùng đất Cảnh dương đã góp phần viết nên trang sử hào hùng của quê hương, tổ quốc. Nói đến đây, ông ngập ngừng. Từ ngày mắm phải tiến cung, dân Cảnh Dương phải chịu nhiều đau khổ trăm bề.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét